Phương pháp nghe - nhìn
Cũng như ở Mỹ, ngay sau đại chiến thế giới lần thứ hai kết thúc, ở nước Pháp và châu âu đòi hỏi có một phương pháp dạy-học ngoại ngữ đáp ứng được các yêu cầu giao lưu kinh tế, văn hóa hết sức cấp bách. Mọi người đều ra sức nhanh chóng, trong một thời gian thật ngắn nắm lấy một số vốn ngoại ngữ tối thiểu để tham gia ngay vào các hoạt động thực tiễn của đời sống châu lục và thế giới. Nắm bắt được nhu cầu ấy, Trung tâm nghiên cứu và phổ biến tiếng Pháp trên thế giới thuộc trường ĐHSP Saint - Cloud do Goug euheim đứng đầu đã đề xuất ra phương pháp cấu trúc - bao quát nghe - nhìn (gọi tắt là phương pháp nghe - nhìn) vào đầu những năm 50. Phương pháp này mang lại hiệu quả rất nhanh và thiết thực, nên nó mau chóng được đón nhận và áp dụng rộng rãi ở nhiều nước châu âu, châu á, châu Phi và trở thành một trường phái giáo học pháp ngoại ngữ mới trên thế giới. Các nhà khởi xướng phương pháp nghe - nhìn đã dựa trên cơ sở lí thuyết ngôn ngữ của F. de Saussure lần đầu tiên xác định rõ khái niệm ngôn ngữ khác với lời nói. Từ đó khẳng định mục đích của dạy-học ngoại ngữ là tạo cho người học khả năng hoạt động lời nói để họ lĩnh hội được lời nói của người khác và tự tao ra lời nói của riêng mình trong giao tiếp, chứ không nhằm cung cấp hệ thống tri thức ngôn ngữ cho người học. Về cơ sở tâm lí học, phương pháp này cũng vận dụng trọn vẹn chủ nghĩa hành vi do Wastson ở Mỹ chủ xướng, mà điểm mấu chốt ở đây cũng là công thức về cơ chế hành vi: \\\"kích thích – phản ứng\\\" như đã giới thiệu ở trong phương pháp nghe - nói ở trên. Trường phái giáo học pháp nghe - nhìn cũng có những nguyên tắc riêng sau đây:
Đảm bảo tính giao tiếp là chủ đạo : Theo ý kiến của các nhà phương pháp nghe-nhìn thì mọi sự tập trung trong giờ học phải dành cho thực hành nghe, nói để hình thành kĩ xảo lời nói ngoại ngữ một cách trực tiếp.
Đảm bảo khẩu ngữ đi trước một bước: Theo đây thoạt tiên học sinh bao giờ cũng phải được nghe nói trước, sau đó mới bắt chước tái tạo đúng lời nói ấy nhiêu lần cho tới khi có được phản ứng tự động hóa mới chuyển sang luyện kĩ năng biểu đạt ý nghĩ bằng nói hoặc viết. Việc dạy học được tổ chức theo đúng trình tự: nghe -nói -đọc viết.
Đảm bảo tính bao quát cấu trúc: phương pháp dạy học phải tuân thủ yêu cấu giới thiệu mọi hiện tượng ngôn ngữ dưới dạng cấu trúc và được lĩnh hội một cách bao quát, không phân tích thành nhiều bộ phận riêng rẽ, nghĩa là học viên nghe trọn vẹn cả câu, nhắc lại cả câu và lĩnh hội nội dung bao quát của cả câu.
Đảm bảo đúng chức năng hoạt động lời nói: Các hiện tượng ngôn ngữ chỉ đưa vào vừa đủ thực hiện các chức năng cần thiết trong từng cấu trúc, không thừa, cũng không thiếu, loại trừ việc nắm ngôn ngữ theo hệ thống miêu tả hình thức hoặc theo logic.
Đảm bảo tính tình huống: Việc lựa chọn, giới thiệu các hiện tượng ngữ pháp trong các cấu trúc cần phù hợp với các tình huống giao tiếp thực tế, cụ thể, nên tài liệu học tập được tanh bày chủ yếu dưới dạng các mẩu đối thoại giữa các nhân vật về một chủ đề trong từng hoàn cảnh.
Đảm bảo kết hợp nghe-nhìn : Đây là yêu cầu hàng đầu của phương pháp nghe - nhìn. Mọi nội dung lời nói cần giới thiệu lần đầu đều phải cho người học đồng thời được nghe âm thanh và nhìn hình ảnh, từ đó trực tiếp gắn liền mặt hình thức của tiếng nói với nội dung được biểu đạt bằng hình ảnh, để gạt bỏ khâu trung gian (dịch) là tiếng mẹ đẻ trong quá trình hình thành kĩ xảo lời nói bằng tiếng nước ngoài.
Loại trừ tiếng mẹ đẻ: Các nhà giáo học pháp nghe - nhìn chủ trương tuyệt đối không dùng tiếng mẹ đẻ trong giờ học ngoại ngữ. Để học sinh hiểu được nội dung của từ và câu, người ta tận dụng mọi phương tiện trực quan, trước hết là các thiết bị kĩ thuật nghe nhìn, để miêu tả, dẫn dắt, giải thích, thậm chí dùng cả cử chỉ, nét mặt, các thủ thuật diễn kịch ở trong lớp học.
Tăng cường nhịp độ học tập: Người ta chủ trương cần tập trung sức lực, thời gian khoảng 8 tháng hình thành bằng được khả năng giao tiếp bằng tiếng nước ngoài về những chủ điểm sinh hoạt qui định phù hợp với vốn từ ngữ, ngữ pháp hạn chế trong phạm vi yêu cầu của khoá học. Như vậy, là vốn ngữ liệu được lựa chọn hết sức kĩ lưỡng trên cơ sở tần số xuất hiện của chúng trong những tình huống giao tiếp thực tế .
Các ý kiến mới nhất